Free Essay

Đạo Đức Kinh Doanh

In: Business and Management

Submitted By nevermore
Words 2759
Pages 12
Phần 3. Đạo đức kinh doanh tại Việt Nam – thực tại và giải pháp: A. Thực trạng đạo đức kinh doanh ở Việt Nam Đạo đức kinh doanh là một vấn đề mới ở Việt Nam. Các vấn đề như đạo đức kinh doanh, văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp… mới chỉ nổi lên kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới và tham gia vào quá trình quốc tế hóa và tòan cầu hóa vào năm 1991. Trước đó, trong thời kinh tế kế hoạch tập trung, những vấn đề này chưa bao giờ được nhắc tới. Trong thời kỳ bao cấp, mọi hoạt động kinh doanh đều do Nhà nước chỉ đạo, vì thế những hành vi có đạo đức được coi là những hành vi tuân thủ lệnh cấp trên. Do khan hiếm hầu hết hàng hóa tiêu dùng, để mua được đã là rất khó, nên không ai có thể phàn nàn về chất lượng hàng hóa. Vì cầu vượt quá cung, chất lượng phục vụ trong mạng lưới cung cấp vô cùng thấp nhưng ít người dám than phiền. Vào thời gian đó, các ngành công nghiệp của Việt Nam chưa phát triển, có rất ít nhà sản xuất và hầu hết đều thuộc sở hữu nhà nước, nên không cần quan tâm đến vấn đề thương hiệu hay sở hữu trí tuệ. Hầu hết lao động đều làm việc cho nhà nước, nơi mà kỷ luật và chế độ lương thưởng đều thống nhất và đơn giản. Tuy nhiên, kể từ khi Việt Nam tham gia quốc tế hóa, có nhiều phạm trù mới được xuất hiện như: quyền sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, đình công, thị trường chứng khoán… và vì thế khái niệm đạo đức kinh doanh trở nên phổ biến hơn trong xã hội. I. Nhận thức của người Việt Nam về đạo đức kinh doanh Cho đến nay, có rất ít sách chuyên môn về đạo đức kinh doanh được xuất bản ở Việt Nam. Hầu hết các trường Đại học, Cao đẳng dạy về kinh doanh ở Việt Nam đều chưa có môn học này, hoặc nếu có cũng chỉ dừng ở hình thức môn tự chọn. Trong nội dung của các môn học có liên quan như kinh doanh quốc tế hay quản trị kinh doanh cũng chưa đề cập đến khái niệm này, hoặc nếu có thì nội dung cũng quá sơ sài. Do áp lực của tiến trình toàn cầu hóa, các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam đề cập khá nhiều đến vấn đề này nhưng lại không đưa ra được một khái niệm chuẩn mực nào. Chính vì vậy, mặc dù thường được nghe về đạo đức kinh doanh nhưng cách hiểu của người dân, của các doanh nghiệp về vấn đề này còn khá mơ hồ. Thực trạng đó đã được thể hiện khá rõ qua kết quả của cuộc điều tra. 40/60 số người được hỏi thường xuyên nghe nhắc đến những vấn đề liên quan đến đạo đức kinh doanh, 20/60 đôi khi nghe nhắc đến vấn đề này. Lưu ý là cuộc điều tra này được tiến hành ở Hà Nội, thủ đô và là thành phố lớn thứ hai của Việt Nam, nên con số này chưa phải là cao. Nhưng khi được hỏi về quan niệm, thế nào là đạo đức kinh doanh, 55/60 số người được hỏi cho “Đạo đức kinh doanh là tuân thủ đúng pháp luật”, chỉ có 5/60 người được hỏi cho “Đạo đức kinh doanh là bảo vệ quyền lợi cho khách hàng” và không ai cho đạo đức kinh doanh phải bao gồm cả hai khái niệm trên! Chính sự hiểu biết mơ hồ này về đao đức kinh doanh đã dẫn đến những thiếu hụt trong thực thi của doanh nghiệp. II. Trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội (corporate social responsibility - CSR) Để tìm hiểu vấn đề này, tôi tập trung vào 2 khía cạnh, trách nhiệm của doanh nghiệp với chất lượng hàng hóa và vấn đề bảo vệ môi trường. Câu hỏi thứ nhất về vấn đề này được đặt ra là: “Doanh nghiệp sẽ làm gì nhận được thông tin là có một số hàng hóa của mình bị kẻ xấu tráo đổi với những hàng kém chất lượng, mà bằng hình thức bên ngoài không có khả năng phân biệt được, có thể gây tác hại cho người tiêu dùng?”. Nhưng trong cuộc điều tra, chỉ có 42 người , chiếm 42%, chọn phương án “Thu hồi ngay toàn bộ lô hàng đó, chấp nhận thua thiệt về kinh tế”, 50 người, chiếm 50% chọn phương án là “Thông báo tại nơi bán, và để người tiêu dùng tự quyết định”, thậm chí có 8 người, chiếm 8%, chọn phương án “Không làm gì cả, vì không phải lỗi tại công ty của mình” ! Câu hỏi thứ hai là: “Cho biết quan điểm của bạn, khi một công ty xuất khẩu sang thị trường EU nước tương có tỷ lệ chất 3 - MPCD nằm trong phạm vi cho phép của Luật Việt Nam, nhưng lại vượt gấp nhiều lần tỷ lệ cho phép của EU?” Có lẽ do vụ việc này đã quá nổi tiếng nên quan điểm của người được hỏi trong cuộc điều tra này đã rõ ràng hơn. 33% số người được hỏi cho đó là “Vi phạm luật pháp”, 25% cho là “Vi phạm đạo đức kinh doanh” và 42% cho là vi phạm cả hai! Không ai coi doanh nghiệp là không vi phạm. Nhưng kết quả này vẫn cho thấy sự mơ hồ trong phân định giữa luật pháp và đạo đức kinh doanh, vì ở đây đúng ra là doanh nghiệp đã vi phạm cả hai, do khi xuất khẩu hàng hóa vào nước nào phải tuân thủ quy định của nước đó. Câu hỏi về trách nhiệm của doanh nghiệp với môi trường cũng dựa trên thực tế là có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt nam đã lợi dụng những yếu kém trong quy định về bảo vệ môi trường của Việt Nam để sử dụng những công nghệ sản xuất gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động và dân cư, nhằm tiết kiệm chi phí. Các ví dụ cho vấn đề này rất phổ biến ở Việt Nam như: các nhà máy dệt không có thiết bị làm sạch không khí, gây bệnh phổi cho công nhân và cư dân xung quanh, nhà máy da giầy sử dụng xả nước thải gây ô nhiễm nguồn nước, các công ty xây dựng không che chắn công trình gây ô nhiễm cho khu vực, không có thiết bị bảo hộ cho người lao động dẫn đến tỷ lệ tai nạn lao động cao….Trong trường hợp này, doanh nghiệp tuy không vi phạm luật pháp nhưng rõ ràng đã cố tình vi phạm đạo đức kinh doanh, vì họ hoàn toàn ý thức được tác hại của hành vi này. Nhưng quan điểm của người được hỏi ở đây lại khá bao dung và ôn hòa! Trả lời cho câu hỏi: “Cho biết quan điểm của bạn về việc một công ty nước ngoài đến lập nhà máy ở Việt Nam để lợi dụng sự lỏng lẻo trong những quy định về môi trường của Việt Nam?“, chỉ có 75% cho là “Không thể chấp nhận được, họ đã vi phạm đạo đức kinh doanh”, còn 25% lại cho là “Bình thường thôi, kinh doanh cần biết tận dụng cơ hội”. Kết quả này cho thấy thực tế là vấn đề môi trường còn ít được quan tâm ở Việt Nam và người Việt Nam còn quá lệ thuộc vào luật pháp khi đánh giá về đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp. III. Vấn đề sở hữu trí tuệ (Intellectual property) ở Việt Nam Đây là vấn đề nóng, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các nước đang phát triển khác. Tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân. Trước hết, cho đến đầu thế kỷ XX Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, những thành tựu về các sản phẩm cần bảo hộ như kiểu dáng công nghiệp, phát minh,… hầu như chưa có, nên không có các quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ. Hơn nữa, là nước có nền văn hóa trọng tập thể, người Việt Nam không có truyền thống bảo hộ sở hữu cá nhân. Một lý do nữa cho việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan ở Việt Nam là nguyên nhân kinh tế. Khi thu nhập của người dân còn quá thấp, trong khi giá cả các sản phẩm có bản quyền lại quá cao và rất phổ biến thì khó có thể hy vọng sở hữu trí tuệ sẽ được tôn trọng. Một cách vi phạm sở hữu trí tuệ khá phổ biên ở Việt Nam là việc công ty cố tình đặt tên cho nhãn hiệu hàng hóa của mình tương tự một nhãn hiệu nổi tiếng đã có trước để trốn tránh luật pháp và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Ví dụ cho tình trạng này quá nhiều, như Hongda và Honda, La Vierge và La Vie, … Kết quả điều tra về vấn đề này đã khẳng định cho nhận định trên về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Để trả lời cho câu hỏi: “Cho biết quan điểm của bạn về việc một công ty cố tình đặt tên nhãn hiệu hàng hóa của mình gần giống với một nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng ?", chỉ có 16 người cho là “Vi phạm luật pháp”, 37 người cho là: “Vi phạm đạo đức kinh doanh”, và 47 người cho là: “Không vi phạm gì cả vì không hoàn toàn giống” . Đáng chú ý là trong số 47 người không cho là vi phạm, có 8 người sinh viên, là nhóm người ít nhiều có được học về vấn đề này, chứng tỏ sở hữu trí tuệ còn là vấn đề nan giải ở Việt Nam trong thời gian tới. IV. Quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động Thời gian qua, đình công đang là một vấn đề nóng ở Việt Nam. Theo thống kê, từ năm 1995 đến nay tại Việt Nam đã xảy ra hơn 1.000 cuộc đình công lớn nhỏ. Chỉ tính riêng trong quý 1/2007 đã xảy ra 103 cuộc đình công tại 14/64 tỉnh, thành phố với hơn 62.700 lượt công nhân lao động tham gia. Nhiều nhất là tại Đồng Nai với 35 cuộc, tiếp đến là Bình Dương 22 cuộc, Tp.HCM 26 cuộc... trong đó 98/103 cuộc đình công là do lý do kinh tế. Các nguyên nhân chính dẫn đến đình công bao gồm: Người lao động không hài lòng với điều kiện làm việc, môi trường ô nhiễm, công cụ lao động không được thẩm tra, an toàn lao động kém, không có kiểm tra sức khỏe định kỳ cho nhân công và tình trạng tai nạn nghề nghiệp khá phổ biến. Để thu hút đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư Việt Nam đưa ra mức lương tối thiểu rất thấp (chỉ có 35USD/tháng trong Luật ĐTNN 1997) nên mặc dù không làm trái luật pháp nhưng mức lương các doanh nghiệp trả cho lao động vẫn rất thấp so với mặt bằng giá cả. Vì thế, người lao động không hài lòng và không trung thành với doanh nghiệp. Xuất thân từ nông dân, hầu hết người lao động thiếu kiến thức về Luật Lao động và thiếu kỹ năng làm việc trong môi trường công nghiệp nên năng suất lao động thấp và có những phản ứng trái pháp luật khi có xung đột. Điều đáng ngạc nhiên là tình trạng này xảy ra không chỉ ở các doanh nghiệp tư nhân trong nước, được coi là ít vốn và không am hiểu luật pháp, mà còn rất phổ biến ở nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là Đài Loan và Hàn Quốc. Theo Viện Công nhân và Công đoàn thuộc Liên đoàn Lao động Việt Nam, trong 10 năm qua đã có 878 cuộc đình công xảy ra tại các doanh nghiệp FDI, chiếm 70,7% tổng số cuộc đình công ở Việt Nam. Trong vòng ba năm kể từ 2007 trờ về trước, hơn 20% công nhân ở các công ty FDI không được tăng lương, mặc dù theo luật pháp, cứ ba năm công nhân phải được tăng lương một lần. Kể cả khi được tăng, mức tăng cũng ít hơn quy định. Rất nhiều xí nghiệp cũng không thực hiện những điều ghi trong hợp đồng với công nhân và các hợp đồng lao động tập thể, như mức tăng lương, giờ làm việc và các trợ cấp xã hội, bao gồm nghỉ phép định kỳ, đau ốm, tình trạng mang thai và đền bù cho tai nạn lao động. Cho đến nay, chỉ 50% công ty FDI ký hợp đồng lao động tập thể để đảm bảo lợi ích cho người lao động, điều dẫn đến bất đồng giữa người lao động và chủ. Khi được yêu cầu phát biểu quan điểm về việc “Một doanh nghiệp từ chối tiếp nhận lao động nữ đang nuôi con nhỏ hoặc buộc làm thêm giờ khi lao động nữ đang nuôi con dưới 3 tuổi”, 25% số người được hỏi cho là vi phạm luật pháp, 66,67% cho là vi phạm đạo đức kinh doanh và chỉ có 5 người (chiếm 8.33%) cho là không vi phạm, vì mọi người lao động có nghĩa vụ làm việc như nhau. Như vậy, chúng ta có thể cho là mặc dù còn những hạn chế về nhận thức nhưng đại đa số người tham gia điều tra đã có ý thức tương đối rõ ràng về vấn đề này! V. (The moral rights and duties between a company and its shareholders) Đây là vấn đề còn rất mới mẻ ở Việt Nam do thị trường chứng khoán Việt Nam còn rất non trẻ (chưa đầy 10 tuổi) nên những quy định về tính trung thực trong báo cáo tài chính, công khai thông tin với các nhà đầu tư của doanh nghiệp,… vẫn còn chưa chặt chẽ. Vì vậy, thời gian qua đã xuất hiện hiện tượng các doanh nghiệp đưa ra những thông tin chưa chính xác để trục lợi, gây lao đao cho nhiều nhà đầu tư. Nhưng những vụ việc như vậy vẫn có nguy cơ xảy ra bất cứ lúc nào vì luật pháp cũng như ý thức của các nhà kinh doanh Việt Nam về vấn đề này còn chưa đầy đủ. Trong kinh doanh việc gặp khó khăn hay rủi ro là khá thường xuyên. Khi gặp tình huống này, những công ty uy tín trên thế giới thường chọn cách thông báo rộng rãi cho các cổ đông để kêu gọi sự hợp tác của họ nhằm giúp công ty vượt qua khó khăn. Mặc dù tiềm ẩn nhiểu rủi ro nhưng cách này giúp công ty giữ được lòng tin của các nhà đầu tư, và thoát khỏi nguy cơ bị bỏ rơi khi thông tin bại lộ. Nhưng trong cuộc điều tra, để trả lời câu hỏi “Khi một dây chuyền sản xuất trong công ty bị hỏng, dẫn đến sản lượng sản xuất bị suy giảm, nhưng nếu thông tin này bị lộ ra ngoài, cổ phiếu của công ty sẽ bị mất giá nghiêm trọng, thì công ty nên làm gì?”, chỉ có 42% số người được hỏi chọn cách thông báo rộng rãi cho các nhà đầu tư, 50% chọn cách “Kìm giữ thông tin một thời gian để tìm cách sửa chữa dây chuyền sản xuất” và 8% chọn cách “Không thông báo gi cả cho đến khi bắt buộc!” Mặc dù kết quả này là khá khả quan,vì đến 92% số người được hỏi không có ý định che giấu thông tin, ít ra là trong một thời gian nhưng đây cũng là một thiếu sót trong nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam.…...

Similar Documents

Free Essay

Đề Án Kinh Doanh

...PHẦN I NHU CẦU ĐẦU TƯ VÀ MỤC ĐÍCH CỦA DỰ ÁN I. GIỚI THIỆU CHUNG Việt Nam hiện nay đang phát triển nhanh chóng sau khi chuyển đổi thành công từ nền khinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường từ năm 1986. Tỉnh Đăk Nông được xem là một trong những tỉnh mới thành lập cần khuyến khích phát triển thể thao- giải trí trong điều kiện phát triển như hiện nay và nhu cầu vui chơi giải trí của người dân càng tăng. Chính vì vậy, đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà máy, nhà ở,.v.v..cũng phải được chú trọng để đáp ứng nhu cầu rèn luyện thể dục, thể thao cho đời sống của người dân. II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦU TƯ CỦA DỰ ÁN Trên địa bàn tỉnh Đăk Nông hiện nay có hàng trăm doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên công việc vẫn đang tạo nhiều áp lực làm cho con người làm việc đem lại hiệu quả chưa cao, các lứa tuổi thanh thiếu nhi vẫn thiếu nơi vui chơi, sinh hoạt. Một số tài năng thể thao từ phong trào, năng khiếu chưa được phát hiện từ địa phương. Phát triển các câu lạc bộ vui chơi, thể thao, giải trí, rèn luyện sức khỏe, làm đẹp, .v.v.. nhằm phục vụ cho nhu cầu của đại bộ phận dân cư trên địa bàn Thị xã Gia Nghĩa là rất cần thiết. Bóng đã mini là môn bóng đá dành cho thiếu nhi, có khi là người lớn. Mỗi trận đấu phải có hai đội, mỗi đội phải có tối đa là 5 hay 7 cầu thủ, trong đó có 1 thủ môn. Những đặc điểm của sân được xác định theo kích thước : sân hình chữ nhật, chiều ngang 22m x chiều dài 42m. Nhằm đáp ứng nhu nhu cầu vui......

Words: 3922 - Pages: 16

Free Essay

Bài Tập Kế Toán Doanh Nghiệp Tm-Dv

...BÀI TẬP KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TM-DV CHƯƠNG: KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN & CÁC KHOẢN TƯƠNG ĐƯƠNG TIỀN Bài số 1: Công ty ABC kê khai và nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên. Trong tháng phát sinh các nghiệp vụ kinh tế sau: Ngày 01/03: Công ty ABC xuất quỹ tiền mặt tạm ứng tiền vật liệu cho Nhân viên A số tiền 42.000.000. Ngày 05/03: Công ty ABC xuất quỹ tiền mặt 80.000.000, nộp vào tài khoản của công ty tại ngân hàng. Đến cuối ngày, Công ty ABC vẫn chưa nhận được giấy báo Có của ngân hàng. Ngày 06/03: Công ty ABC nhận được giấy báo Có của số tiền nộp vào tài khoản ngân hàng ngày 05/03. Ngày 10/03: Công ty ABC mua một lô công cụ có giá thanh toán 27.500.000 (bao gồm thuế GTGT 10%), chưa thanh toán tiền cho Công ty B. Chi phí vận chuyển thanh toán bằng tiền mặt 495.000 (bao gồm thuế GTGT 10%). Công cụ nhập kho đủ. Ngày 15/03: Nhân viên A thanh toán tiền tạm ứng: - Vật liệu nhập kho có giá thanh toán 38.500.000 (bao gồm thuế GTGT 10%). - Chi phí vận chuyển 770.000 ( bao gồm thuế GTGT 10%). - Nhân viên đã nộp lại quỹ tiền tạm ứng không chi hết. Ngày 16/03: Căn cứ số lượng hàng hoá gửi đi bán tại các đại lý đã tiêu thụ, Công ty ABC thanh toán hoa hồng bán hàng cho các đại lý bằng tiền mặt 110.000.000 ( bao gồm thuế GTGT 10%). Ngày 20/03: Công tyABC được ngân sách Nhà nước cấp bổ sung vốn kinh doanh bằng tiền gửi ngân hàng 1.250.000.000. Công......

Words: 10372 - Pages: 42

Free Essay

Chuyên San 7 Đại Học Kinh Tế Luật

...CHUYÊN SAN C A SINH VIÊN KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG TRƯ NG Đ I H C KINH T - LU T Sô 07 Tháng 9-2013 NGÂN HÀNG HỆ THỐNG www.uel.edu.vn/url/chuyensan . chuyensantcnh@uel.edu.vn . facebook/chuyensantcnh.uel o7 Ban c v n TS. NGUY N NG C HUY ThS. HOÀNG TH PHÚ ThS. TR N HÙNG SƠN ThS. NGUY N TH DI M HI N ThS. TÔ TH THANH TRÚC ThS. NGUY N ANH PHONG Cùng các Th y Cô Khoa Tài chính - Ngân hàng Ban biên t p PHAN TH THANH THU N (K10404B) - Trư ng ban PH M MINH NH T (K10403) - Phó ban LÊ TH DI M MÂN (K10404A) - Phó ban VŨ KHÁNH LINH (K11404T) - Phó ban PHAN VINH LINH GIANG (K11405T) - Phó ban NGUY N TH PHƯƠNG DUNG (K11404T) NGUY N NG C TH O HI N (K11404A) NGUY N TH DOAN (K11404T) - Trư ng b phân truy n thông Ban n i dung Trư ng Nhóm Ch ng khoán TR N TH THANH NHUNG (K10404B) Trư ng Nhóm Tài chính NGUY N TH QUỲNH LIÊN (K10404B) Trư ng Nhóm Ngân hàng NGUY N TH ÁI NHI (K10404T) Trư ng Nhóm Vĩ mô ĐÀO TH VĨNH NGUYÊN (K10405T) Cùng các thành viên khác Thi t k , trình bày Đ AN KHƯƠNG (K12404A) TRƯƠNG THUY T B O (K12404A) VŨ KHÁNH LINH (K11404T) 02 • 05 • 07 • 10 • HỆ THỐNG NGÂN HÀNG phát triển bền vững 02 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG Phải chăng “chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”? Sản phẩm tiền gửi – Vai trò trong giai đoạn hiện nay Đánh giá mức độ lành mạnh các Tổ chức tín dụng Việt Nam – Khung phân tích Camels có phải là sự lựa chọn hoàn hảo? Tỉ lệ an toàn vốn “CAR” – 1 từ, 3 chữ nhưng nhiều vấn đề 14 14 • 16 • 18 • 20 • bàn tròn sự......

Words: 54431 - Pages: 218

Free Essay

Tăng Trưởng Kinh Tế

...Sự tăng trưởng về kinh tế nước ta nói chung, đô thị nói riêng trong những năm vừa qua đã kéo theo sự phát triển về văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật… nhưng bên cạnh đó nó cũng tồn tại một số vấn đề xã hội, trong đó đặc biệt là vấn đề nhà ở. Một cá nhân có thể trở thành người tốt, có phẩm chất và nhân cách khi cá nhân có điều kiện thực hiện tốt quá trình xã hội hóa. Nếu không được chăm sóc, giáo dục trong môi trường xã hội lành mạnh, tức là không có điều kiện để xã hội hóa bản thân, thì cá nhân đó có thể trở thành người xấu, bị tách khỏi chuẩn mực của xã hội.[9, 2006]. Với sinh viên là bộ phận ưu tú về trí tuệ của thanh niên nói chung. Họ là lớp người đang độ trưởng thành, lại được học tập, sinh hoạt ở thành phố, đô thị lớn nên có cơ hội tiếp xúc sớm với những tiến bộ xã hội. Sinh viên là nguồn bổ sung trực tiếp cho lực lượng trí thức của nước nhà. Ngày nay, bước sang thế kỷ 21, khi mà khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì vai trò của sinh viên càng trở nên quan trọng. Vì vậy, việc nâng cao đời sống cho sinh viên là việc quan trọng và hết sức cần thiết, đặc biệt là quan tâm đến nhà ở - đó là một cách quan tâm thiết thực hơn đến đời sống và sinh hoạt của sinh viên - những trí thức trẻ trong tương lai. Vì thế, vấn đề nhà ở cho sinh viên là vấn đề thiết thực và cấp bách, cần được sự quan tâm của mọi người, nhưng vấn đề này vẫn nhận được ít sự quan tâm từ nhiều phía: chính sách hỗ trợ từ nhà nước, lãnh đạo các cơ quan ban, nghành, chức năng, các cơ quan...

Words: 899 - Pages: 4

Free Essay

Do Ảnh Hưởng Của Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Tài Chính Và Suy Thoái Kinh Tế Toàn Cầu Từ Năm 2008 Đến Nay, Nền Kinh Tế Nước Ta Đã Chịu Tác Động Tiêu Cực Và Kinh Tế Vĩ Mô Có Nhiều Yếu Tố Không

..................................................................................................... 22 2.2.13 Quy định về gửi công văn ngăn chặn đến Cơ quan công an: .............................. 24 2.2.14 Kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay và tái thẩm định TSĐB: ............................. 24 2.2.15 Hồ sơ vay vốn..................................................................................................................... 25 2.2.16 Lưu ý: ................................................................................................................................... 25 2.3 Các văn bản liên quan: ......................................................................................................... 25 3. Cho vay sản xuất kinh doanh trả góp - YOUshop: ................................................................... 27 3.1 Đối tượng vay vốn: ................................................................................................................. 27 3.2 Điều kiện vay vốn: ................................................................................................................ 27 3.3 Mục đích vay vốn:................................................................................................................... 28 3.4 Thời hạn cho vay: ................................................................................................................... 28 3.4.1 Thời hạn cho vay: .........................................................................

Words: 38007 - Pages: 153

Free Essay

Tran Hung Dao

...ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH LỚP CLC – 12DQT1 MÔN HỌC: Nghệ thuật lãnh đạo ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO CỦA HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN GVHD: Lê Cao Thanh Nhóm thực hiện: Nhóm 1 TP.HCM, tháng 10 năm 2014 * ------------------------------------------------- TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH LỚP CLC – 12DQT1 MÔN HỌC: Nghệ thuật lãnh đạo ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO CỦA HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN GVHD: Lê Cao Thanh Danh sách thành viên nhóm STT | Họ và tên | MSSV | 1 | Hồ Như Minh Dung (nhóm trưởng) | 1212010040 | 2 | Hồ Lữ Phương Vy | 1212010361 | 3 | Vũ Minh Khoa | 1212010111 | 4 | Trần Thúy Nga | 1212010161 | 5 | Huỳnh Văn Diệu Hằng | 1212010101 | 6 | Phạm Thị Thu Hương | 1212010092 | TP.HCM, tháng 10 năm 2014 MỤC LỤC 1. Sơ lược tiểu sử Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 2 2. Những yếu tố ảnh hưởng đến nghệ thuật lãnh đạo của Trần Hưng Đạo 2 3. Phân tích, đánh giá nghệ thuật lãnh đạo của Trần Hưng Đạo 2 4. Bài học rút ra cho các bạn sinh viên 2 1. Sơ lược tiểu sử Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Trần Quốc Tuấn, sinh ngày 10 tháng Chạp năm Mậu Tý (1228). Ông là con thứ 2 của Khâm Minh Đại Vương Trần Liễu, mẹ là Đoan Túc. Quê Ông ở làng Tức Mặc, xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định. Viết về sự khai nguyên của dòng dõi nhà Trần, sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên chép rằng :"Có người tên Kinh đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, sinh...

Words: 5855 - Pages: 24

Free Essay

Doanh Nghiệp Xã Hội

...ĐỀ ÁN DOANH NGHIỆP XÃ HỘI HAPPY SMILE I. Khái quát về đề án 1. Đối tượng trẻ em lang thang Trong thời kỳ xây dựng và đổi mới đất nước, chúng ta đã thu được những thành tựu đáng kể về nhiều mặt kinh tế, xã hội, văn hóa ... góp phần cải thiện chất lượng sống của người dân. Nhưng bên cạnh, một vấn đề hiện nay đang nhận được sự quan tâm lớn từ Nhà nước và các tổ chức, đó là: Trẻ em lang thang. Chúng ta đều biết rằng, trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương nhất, là đối tượng cần nhận được sự quan tâm đặc biệt từ gia đình – xã hội, và là thế hệ tương lai của đất nước, nhưng hiện tượng trẻ em lang thang đang có xu hướng gia tăng trong xã hội. Tính đến năm 2013, nước ta có khoảng 24.000 trẻ em lang thang – một con số đáng báo động. Không chỉ dừng lại ở đó, số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vẫn còn 1,53 triệu, số trẻ em nghèo khoảng 4,28 triệu – những đối tượng này có nguy cơ cao trở thành trẻ em lang thang trong tương lai. ← Đây là một vấn đề không phải của riêng chính phủ mà cần phải có sự chung tay của toàn cộng đồng trong việc giúp các em có một cuộc sống tốt hơn. Nhà nước đã ban hành hàng loạt các chính sách thể hiện sự quan tâm của mình với đối tượng là trẻ em, nhưng chúng ta cần nhìn thẳng vào vấn đề: điều gì khiến các em trở thành trẻ lang thang ( kinh tế ??? Các em phải chật vật với cuộc sống hàng ngày tất cả cũng vì miếng cơm sống qua ngày, nếu chúng ta chỉ hỗ trợ cho các...

Words: 1678 - Pages: 7

Free Essay

Giao Duc Hoc

...http://d.violet.vn/uploads/resources/627/2925450/preview.swf Những lệch hướng trong DẠY CHỮ, DẠY NGƯỜI, DẠY NGHỀ DƯỚI GÓC NHÌN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Th.S Phạm Văn Khanh Chủ tịch Hội KHTL&GD tỉnh Tiền Giang ---------------------- Vận dụng lời dạy của Bác Hồ về việc học như trên, trong những năm 1980, ngành giáo dục đã đưa quan điểm “Dạy chữ, dạy người, dạy nghề ” thành nhiệm vụ giáo dục quan trọng trong ngành và trở thành nhiệm vụ phổ quát trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và trong chiến lược 2011-2020. Vì vậy vấn đề cần lưu tâm luận bàn ở đây là giữa nội dung, ý nghĩa của 4 trụ cột giáo dục của UNESCO và nội dung, ý nghĩa của việc dạy chữ, dạy người, dạy nghề có mối quan hệ như thế nào trong vận dụng vào giáo dục phổ thông ở nước ta. Về tổng thể, giữa nội dung 4 trụ cột giáo dục có mối tương quan một - một với nội dung dạy chữ, dạy người, dạy nghề xét trên nhiều phương diện: mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, hoạt động giáo dục, phương pháp giáo dục... Thí dụ dạy chữ tương quan với học để biết; Dạy người tương quan với học để làm người; Dạy nghề tương quan với học để làm và dạy về hợp tác người với người tương quan với học để cùng chung sống. Nhưng ở đây trong vế thứ nhất ( Dạy) có ba nội dung là dạy chữ, dạy người, dạy nghề phải chăng còn thiếu một nội dung? Nội dung thứ tư còn thiếu đó là dạy về...

Words: 2272 - Pages: 10

Free Essay

TáC độNg Vủa Thuế đốI VớI Kinh Doanh Cà Phê

...Tác động của thuế đối với kinh doanh cà phê Tại kỳ họp Hội đồng lần thứ 107 Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO) diễn ra tại London từ ngày 26 đến 30 tháng 9 năm 2011, tài liệu “The effects of tariffs on the coffee trade” được các đại biểu tham dự quan tâm. Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy cần chuyển tải những nội dung chính của tài liệu này để quý vị tham khảo, phục vụ họat động kinh doanh của các doanh nghiệp. Thương vụ Việt Nam tại UK. Phát triển bền vững thị trường cà phê toàn cẩu là một nguyên tắc cơ bản của Tổ chức Cà phê Thế giới ICO. Vì vậy, rà soát các rào cản có khả năng xảy ra nhằm đạt được nguyên tắc cơ bản là rất cần thiết trong họat động của ICO. Tài liệu nghiên cứu dưới đây sẽ cung cấp một cách tóm tắt các loại thuế, dòng thuế đã được áp dụng đối với mặt hàng cà phê do các nước thành viên ICO và những đối tác liên quan cung cấp. Cần lưu ý rằng các biểu thuế (mức thuế) ở các nước xuất khẩu thường cao hơn các nước nhập khẩu. Tuy nhiên, mức thuế ở các nước nhập khẩu có xu hướng tăng bởi sản phẩn cà phê có chiều hướng được chế biến sâu hơn. Theo đó mức thuế đối với cà phê hòa tan thường cao hơn cà phê hạt. Hậu quả là không khuyến khích được sự phát triển công nghiệp chế biến tại các nước xuất khẩu. Người ta có thể dễ nhận thấy mối quan hệ giữa độ lớn của các dòng thuế và mức tiêu dùng tại các nước nhập khẩu. Mức tiêu dùng tại phần lớn các nước xuất khẩu tương đối thấp dù khả năng khuyến mại lớn. Tài liệu này sẽ phân tích tác động của các mức thuế, loại...

Words: 2872 - Pages: 12

Free Essay

Kế HoạCh Kinh Doanh đIệN Tử

...| Trường Đại học Bách khoa Hà NộiViện Đào Tạo Quốc Tế | | KẾ HOẠCH KINH DOANH ĐIỆN TỬ HỌC PHẦN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Tên kế hoạch: Kinh doanh mỹ phẩm Hàn Quốc Nhóm 3.1 : Trần Thị Ngọc Anh – 20138729 Phạm Hoàng Lâm Oanh – 20138758 Trần Thị Phượng - 2013835 Lớp : VUW12A Giáo viên hướng dẫn : Phan Văn Thanh Hà Nội – 2015 1. Tóm tắt kế hoạch kinh doanh 1.1. Nói về công ty Mỹ phẩm Hàn Quốc APO (1/10/2015) là doanh nghiệp tư nhân kinh doanh mỹ phẩm nhập khẩu từ các nhãn hiệu uy tín của Hàn Quốc như Thefaceshop, Innisfree, Tonymoly… Sản phẩm rất đa dạng từ các sản phẩm dưỡng da, dưỡng trắng da, sản phẩm chống lão hóa, son môi, sữa rửa mặt,… Chúng tôi là một doanh nghiệp tận dụng tối đa công nghệ mạng web nên có khả năng làm việc hoàn toàn qua website. Đại diện là trang web http://localhost/otc những người gia nhập đều được trải qua nhiều sự chọn lọc kỹ lưỡng và có kiến thức cũng như kinh nghiệm về việc kinh doanh và hiểu biết nhiều về mỹ phẩm. Mọi thắc mắc của khách hàng xin liên hệ theo đường dây nóng 1900 6666. 1.2. Tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi 1.2.1. Tầm nhìn Là công ty chuyên các sản phẩm làm đẹp tại Việt Nam, được khách hàng tín nhiệm ưu tiên lựa chọn. 1.2.2. Sứ mệnh Thấu hiểu khách hàng, mang đến cho khách hàng niềm tin, mua sắm thuận lợi qua những sản phẩm chất......

Words: 4971 - Pages: 20

Free Essay

Kinh Tế

...MẤY Ý KIẾN VỀ CHỦ TRƯƠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TS. Phạm Văn Khánh Báo Nhân Dân Đặt vấn đề Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, thực hành đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị với các quốc gia, dân tộc trên thế giới đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra từ khi thành lập Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra đường lối mở cửa kinh tế, chuyển nền kinh tế sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Có thể nói, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước. Thực hiện chủ trương này, sau 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã hội nhập sâu và toàn diện vào nền kinh tế thế giới. Tiếp tục đường lối đối ngoại rộng mở, Văn kiện Đại hội X của Đảng nêu rõ: Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất. Phát huy vai trò chủ thể và tính năng động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế. Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, phát triển thị trường mới, sản phẩm mới và thương hiệu mới. Từ khi Việt Nam chính thức là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã đặt ra nhiều vấn......

Words: 10908 - Pages: 44

Free Essay

Triet Ly Kinh Doanh

...TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC (ĐÀO TẠO CAO HỌC) Đề tài: Về triết lý kinh doanh và triết lý doanh nghiệp “Triết lý kinh doanh và triết lý doanh nghiệp trong phát triển của doanh nghiệp” Người viết: Tống Nguyễn Hồng Việt Mã học viên: Lớp: EMBA 14A Khóa: 14 MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 3 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRIẾT LÝ KINH DOANH 4 1.1. Khái niệm và mối quan hệ giữa triết lý kinh doanh và triết lý doanh nghiệp 4 1.2. Hình thức thể hiện và nội dung cơ bản của triết lý doanh nghiệp 6 1.3. Vai trò của triết lý doanh nghiệp trong phát triển doanh nghiệp 8 CHƯƠNG II: TRIẾT LÝ KINH DOANH CỦA TẬP ĐOÀN FPT 10 2.1. Giới thiệu chung về tập đoàn FPT 10 2.2. Triết lý kinh doanh của chủ tịch tập đoàn và tập đoàn 11 2.3. Đánh giá thành công đạt được 14 KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 ĐẶT VẤN ĐỀ Ở Việt Nam, triết lý kinh doanh đã tiềm ẩn từ lâu trong tư duy và hành động của nhiều nhà kinh doanh có tầm nhìn chiến lược thuộc các thành phần kinh tế, tuy nhiên chưa phổ biến rộng rãi, chưa được hình thành có hệ thống và thể hiện một cách chính thức, khiến nhiều chuyên gia nước ngoài khi nhận xét về các doanh nghiệp Việt Nam, cho rằng: “đa số các doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay đều không có triết lý kinh doanh và chiến lược kinh doanh dài hạn”. Sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội, sự hội nhập, giao lưu hợp tác kinh tế giữa các khu vực, các quốc gia trên toàn thế giới, đặc biệt là từ khi Việt Nam chính thức gia...

Words: 5742 - Pages: 23

Free Essay

Khu Kinh Tế TrọNg đIểM MiềN Trung ViệT Nam

...Nâng cao vai trò của các KKT vùng kinh tế trọng điểm miền trung trong thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI – LV04613 Lãng phí đầu tư công trong xây dựn và phát triển các KKT tại Việt Nam thực trạng và giải pháp – lv 06756 Chính sách khuyến khích đầu tư vào đặc khu kinh tế tq – ts 00019 Định hướng thu hút và sử dụng vốn FDI vào các KKT 1. Quan điểm thu hút FDI 2. Mục tiêu thu hút và sử dụng vốn FDI 3. Định hướng thu hút và sử dụng vốn FDI 4.1. Định hướng chung 4.2. Định hướng cụ thể a. Theo đối tác b. Theo lĩnh vực Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các KKT trong thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI 1. Về quy hoạch và xây dựng chiến lược thu hút FDI Thứ nhất, ban quản lý KKT cần hoàn thiện và nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng tổng thể KKT và quy hoạch chi tiết các khu chức năng trên cơ sở rà soát, bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời có phân kỳ đầu tư hợp lý để đảm bảo hiệu quả đầu tư cơ sở hạ tầng và thu hút FDI theo từng giai đoạn phát triển. Nên thuê công ty tư vấn nước ngoài có kinh nghiệm tham gia quy hoạch chi tiết một số khu chức năng chủ lực như Khu phi thuế quan, Khu công nghiệp nặng, Khu công nghệ cao, Khu đô thị, Khu du lịch – dịch vụ cao cấp…. Thứ hai, công tác xây dựng quy hoạch cần đảm bảo một số yêu cầu như sau: * Có tính bền vững, ổn định lâu dài và phát huy tốt nhất lợi thế so sánh của KKT. * Gắn chặt với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của KKT và các địa......

Words: 1348 - Pages: 6

Free Essay

Đề CươNg MôN Kinh Tế Du LịCh

...ĐỀ CƯƠNG MÔN KINH TẾ DU LỊCH Câu 1:Nêu khái niệm về du lịch của Michael Cotman? - Định nghĩa của Michael Coltman (Mỹ): “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch du lịch, dân cư sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”. - Du khách là người tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm du lịch - Nhà cung ứng du lịch là nhà cung cấp các dịch vụ và sản phẩm du lịch để đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của du khách. - Chính quyền địa phương của điểm đến là nhân tố chính tạo ra các động lực phát triển du lịch phụ thuộc nhu cầu ngày càng cao của du khách. Dân cư sở tại là một trong những nguồn lao động chính phục vụ trong du lịch Câu 2:Phân tích xu hướng nhóm xu hướng phát triển cung của xu hướng phát triển du lịch thế giới? Xu hướng 1: Đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Xu hướng 2: Phát triển hệ thống bán sản phẩm du lịch Xu hướng 3: Tăng cường hoạt động truyền thông trong du lịch Xu hướng 4: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong du lịch. Xu hướng 5: Đẩy mạnh quá trình khu vực hóa, quốc tế hoá. Xu hướng 6: Hạn chế tính thời vụ trong du lịch Câu 3:Phân tích ý nghĩa về mặt kinh tế và ý nghĩa về mặt xã hội của việc phát triển du lịch? XH: - Mở ra cơ hội giao lưu. - Là cơ sở mở ra mối quan hệ hữu nghị, ngoại giao. - Tái tạo sức lao động. - Giải......

Words: 3744 - Pages: 15

Free Essay

Kinh Te Hoc Hai Huoc - Bizsum

...nhà kinh tế học người Mỹ xuất chúng, nổi tiếng với các nghiên cứu về tội phạm, đặc biệt là về mối liên kết giữa việc phá thai được hợp pháp hóa và tỷ lệ tội phạm. Được nhận huy hiệu John Bates Clark vào năm 2003, Levitt hiện là giáo KINH TẾ HỌC HÀI HƯỚC  Khám phá những khía cạnh ẩn khuất của mọi hiện tượng xã hội từ quan điểm kinh tế học (Freakonomics) Tác giả: Steven D. Levitt & Stephen J. Dubner Nhà xuất bản: Harper Perennial Năm xuất bản: 2009 Số trang: 352 Dịch giả: Huyền Trang NXB Việt Nam: Alpha Books & Tri thức Năm xuất bản: 2007 Số trang: 304 sư kinh tế học tại Đại học Chicago và là giám đốc Trung tâm nghiên cứu Becker về lý thuyết giá Chicago tại Trường kinh doanh sau đại học Chicago. Năm 2006, Levitt được tạp chí Time bầu chọn là một trong “100 người kiến tạo thế giới”. Ý TƯỞNG CHỦ ĐẠO Vào những năm 1990, tình trạng tội phạm tại Mỹ tăng mạnh và các chuyên gia dự đoán chúng sẽ còn tăng đột biến. Nhưng sau đó, tỷ lệ tội phạm lại đột nhiên giảm xuống. Các chuyên gia cho rằng điều đó có được là nhờ bùng nổ kinh tế và các quy định về kiểm soát súng chặt chẽ hơn. Nhưng các giả định này không hề đúng. Lý do thật sự lại bắt nguồn từ sự hợp pháp hóa việc phá thai 20 năm trước. Vì thế những đứa trẻ đáng lẽ được sinh ra trong các môi trường xấu có nhiều khả năng trở thành tội phạm khi lớn lên, đã không được chào đời. Đây chính là vấn đề mà nhà kinh tế học Steven D. Levitt và nhà báo Stephen J. Dubner đề cập đến trong cuốn sách Kinh tế......

Words: 5683 - Pages: 23